Chào mừng bạn đến với Sott.net
Thứ bảy, 24 Tháng sáu 2017
Thế Giới Cho Những Người Suy Nghĩ

Khoa Học Tâm Linh
Bản đồ


People

Nghiên cứu: Càng dành nhiều thời gian cho mạng xã hội, con người càng cô đơn

© Paul Sakuma, Associated Press
Hôm 6/3, Forbes dẫn kết quả nghiên cứu gần đây vừa được Tạp chí Y học Dự phòng Mỹ (American Journal of Preventative Medicine) công bố cho rằng, người nào dùng các mạng xã hội như Facebook, Twitter càng nhiều thì càng cảm thấy bị xã hội cô lập.

Thông tin này có thể khiến nhiều người ngạc nhiên nhưng những nghiên cứu trước đó cũng đưa ra kết luận tương tự. Theo đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, lượng thời gian con người dành cho mạng xã hội có liên quan đến cảm giác tuyệt vọng, ghen tuông, tự ti và mặc cảm.

Những người dành nhiều thời gian trên mạng xã hội (từ hơn 2 giờ một ngày) có cảm giác bị xã hội cô lập nhiều hơn những người chỉ dùng mạng xã hội dưới 30 phút một ngày. Những người vào mạng xã hội từ 58 lần trở lên trong một tuần có cảm giác bị xã hội cô lập hơn những người chỉ vào mạng xã hội dưới 9 lần một tuần.

Nghiên cứu mới được đăng trên Tạp chí Y học Dự phòng Mỹ được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Pittsburgh, với sự tham gia của những người trưởng thành trong độ tuổi từ 19 đến 32 tuổi. Họ được hỏi về thời gian và tần suất sử dụng các mạng xã hội như Facebook, YouTube, Twitter, Google Plus, Instagram, Snapchat , Reddit, Tumblr, Pinterest, Vine và LinkedIn...

Nhận xét: Con người cần tương tác xã hội. Tuy nhiên, các mạng xã hội như Facebook không mang lại tương tác xã hội thực sự. Chúng chỉ như một thứ ma túy tạo ra khoái cảm nhất thời nhưng giả tạo và chóng tắt. Chỉ có tương tác ngoài đời thực, với một ấm chè hay một ly cafe, mới có thể đem lại cái mà con người cần.


Books

Mười lý do vì sao bạn nên đọc sách nhiều hơn

Chúng ta thường nghe nói rằng việc đọc sách có tác động kỳ diệu lên khả năng của não bộ, tâm trạng và cảm xúc của con người. Vậy điều này có thật không?

Sau đây là tập hợp những nghiên cứu thú vị chứng minh rằng: đọc sách thật sự là một hoạt động vô cùng hữu ích. Hãy cùng xem và tìm hiểu lý do vì sao việc lựa chọn một cuốn sách để đọc ngày hôm nay là một quyết định hoàn toàn đúng đắn.

1 - Giúp giảm căng thẳng

Bạn sẽ giành thời gian để làm gì khi đang căng thẳng? Bằng cách nghe nhạc hay đi bộ ư? Các nhà nghiên cứu từ trường đại học Sussex đảm bảo rằng bạn nên cố gắng thay thế những điều trên bằng việc đọc sách. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng so với âm nhạc, đi dạo và uống một tách cà phê... thì đọc sách là cách hiệu quả nhất để vượt qua căng thẳng. Khi đọc sách, căng thẳng của bạn sẽ giảm bớt hơn hai phần ba chỉ trong vòng sáu phút.

Arrow Up

Căn bệnh "nhiều hơn nữa"

Thành công thường là bước đầu tiên dẫn đến thảm họa. Khái niệm tiến bộ thường là kẻ thù của tiến bộ thực sự.
Gần đây tôi gặp một chàng trai, dù có công ăn việc làm thành công rực rỡ, lối sống tuyệt vời, tình duyên hạnh phúc, và mạng lưới bạn bè rộng lớn, anh ta vẫn nghiêm nghị nói với tôi rằng anh ta đang nghĩ đến việc thuê huấn luyện viên để giúp anh ta "đạt đến tầm cao mới".

Khi tôi hỏi cái tầm cao mới đó là cái gì, anh ta bảo là cũng không biết nữa, và đó là lý do anh cần một huấn luyện viên, để chỉ ra những điểm mù và thiếu sót của mình.

"Ồ," tôi nói. Và rồi tôi đứng bối rối một lúc, xem xem tôi sẽ tàn nhẫn phũ phàng đến mức độ như thế nào với người mà tôi chỉ vừa mới gặp. Anh chàng này rất là phấn khởi, rõ ràng là đang rất sẵn sàng để chi rất nhiều tiền cho một thứ trên trời dưới đất nào đó mà người ta bảo là vấn đề của anh ta.

"Nhưng nếu như không có gì để sữa chữa thì sao?" tôi nói.

People 2

Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

Nhận xét: Dưới đây là một nhận xét được nhiều người ưa thích nhất dưới bài viết gốc:
Tôi hoàn toàn đồng ý, Jed. Tôi cũng là một trong số những "bậc thầy" may mắn, nhờ ơn trời đã kết hôn và yêu say đắm vợ tôi được 20 năm nay. Mọi người thường tự hỏi có phải chúng tôi vừa mới cưới không khi họ giao thiệp với chúng tôi.

Cũng không có "cố gắng" nào ở đây cả. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng "thói quen" là điều quan trọng. Thói quen tử tế và tôn trọng lẫn nhau. Rất thường xuyên tôi thấy những đôi vợ chồng quyết định rằng một khi mối quan hệ của họ đạt đến một giai đoạn nhất định - hẹn hò nghiêm túc, đính hôn hay cưới - nghĩa là họ đã "sở hữu" người bạn đời của mình, và do vậy không cần đối xử tốt như trước nữa. Việc tìm hiểu, tán tỉnh đã xong. Trên thực tế, còn ai khác ngoài người bạn đời mà bạn cần đối xử như vị nữ hoàng hay vua?

Tôi cũng nói với mọi người: "Chúng tôi tranh luận suốt ngày; nhưng rất hiếm khi chúng tôi cãi lộn." Tôi có thể đếm số lần "cãi lộn" trong 20 năm qua trên một bàn tay. Tranh luận một cách công bằng, nói thật sớm khi có những điều nhỏ khiến bạn phiền lòng và bạn sẽ không còn cần những trận cãi lộn to nữa, bởi vì những trận cãi lộn to ấy thường là cả một mớ những thứ nhỏ nhặt phát triển lên thành những thứ lớn và chúng có thể làm hại đến tình yêu.



Hearts

Tình yêu

Tình yêu...

Hầu hết những người tôi biết nhầm lẫn tình yêu với sở hữu. Lý do cũng dễ hiểu. Nó gắn liền với những giả định cơ bản nhất trong nền văn hóa của chúng ta. "Anh là của em" hay "em là của anh", những bài hát thường nói, "và chúng ta thuộc về nhau". Hầu như chẳng có ai dừng lại một chút để suy ngẫm về điều đó.

Ngay khi chúng ta bắt đầu cảm thấy yêu, chúng ta lập tức tìm cách sở hữu. Chúng ta nói một cách tự tin về bạn trai của tôi, vợ của tôi, con của tôi, bố mẹ của tôi. Chúng ta cảm thấy có đủ lý do để có các kỳ vọng về những người đó. Chúng ta coi đó là hoàn toàn hợp lý.

Tại sao? Bởi vì tất cả các khái niệm về tình yêu của chúng ta suy cho cùng bắt nguồn từ tình yêu lãng mạn - và tình yêu lãng mạn mang tính sở hữu một cách hung dữ, điên cuồng. Chúng ta muốn được ở cùng với những người chúng ta yêu, được có họ cho riêng chúng ta, được cảm thấy ánh mắt của họ lên chúng ta, được ngấu nghiến tâm trí và thân thể của họ... được sở hữu họ.

Chúng ta đánh đồng tình yêu và sự sở hữu mạnh đến mức chúng ta thậm chí có thể cảm thấy nếu ai đó không muốn sở hữu chúng ta, người đó không thực sự yêu chúng ta. Mặc dù vậy, tôi muốn chỉ ra rằng cái mà chúng ta gọi là tình yêu lãng mạn hoàn toàn không phải là tình yêu. Nó là một cơn bão cảm xúc, một sức hấp dẫn làm say sưa, không cưỡng lại được - nhưng nó không phải là tình yêu.

Bulb

10 điều những người có sức mạnh ý chí siêu việt làm khác người bình thường

© Scott Cramer/iStockphoto
"Những người này chắc phải là thánh nhân!"

Roy Baumeister, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về khoa học của ý chí, nghĩ vậy.

Ông và các đồng nghiệp nghiên cứu một số người ở Đức và Hà Lan, những người có vẻ như có sức mạnh ý chí không có gì cản nổi. [1]

Họ ăn uống lành mạnh.

Họ tập thể dục thường xuyên.

Hearts

Éiriú Eolas: Chương trình thở dưỡng sinh và thiền cho thời đại mới

Bạn có hay bị căng thẳng hoặc luôn cảm thấy mệt mỏi không? Bạn có bị những triệu chứng mà bác sĩ không biết là bệnh gì và họ nghĩ rằng bạn chỉ tưởng tượng ra chúng? Bạn có hay bị đau nhức không? Cơ thể bạn có bị nhiễm độc do sống trong môi trường ô nhiễm hiện nay không? Bạn có mơ ước mình có thể đối mặt với những thử thách của cuộc sống một cách bình tĩnh và thanh thản hơn không? Bạn có muốn thực sự cảm thấy khỏe mạnh, hạnh phúc và không bị đau đớn mỗi ngày?

Xin giới thiệu Éiriú Eolas (đọc là E-ru Ô-las), chương trình giảm stress, phục hồi và chữa lành dựa trên cơ sở khoa học, hiệu quả đến không ngờ. Đây là CHÌA KHÓA sẽ giúp bạn thay đổi cuộc sống của bạn một cách THỰC SỰ và có thể nhận biết ngay được:

Những lợi ích đã được chứng minh của chương trình Éiriú Eolas gồm có:
  • Giảm stress ngay lập tức trong những tình huống căng thẳng
  • Giải độc cơ thể dẫn đến bớt đau đớn
  • Thư giãn và nhẹ nhàng giải quyết những tổn thương tình cảm và tâm lý trong quá khứ
  • Phục hồi và tái tạo cơ thể / tinh thần của bạn

Key

Bí quyết của động lực mạnh mẽ

Có hai loại động lực luôn song hành tồn tại khi chúng ta làm bất cứ việc gì: động lực nội tại và động lực ngoại sinh. Nếu một nhà khoa học tiến hành nghiên cứu để khám phá thế giới, đó chính là động lực nội tại; bởi việc khám phá tri thức về bản chất có liên hệ mật thiết với hành động nghiên cứu khoa học. Đổi lại, nếu cô ấy nghiên cứu vì muốn đạt được danh tiếng của một bậc học giả, cô ấy đang bị chi phối bởi động lực ngoại sinh, bởi không có một mối liên hệ thực sự khả dĩ nào giữa "sự nổi tiếng" và "nghiên cứu khoa học". Thông thường, cả động lưc nội tại và ngoại sinh đều thúc đẩy con người ta.

Vậy, loại động lực nào có khả năng đem tới thành công cao nhất - động lực nội tại, động lực ngoại tại hay kết hợp cả hai? Bạn có thể cho rằng một nhà khoa học vừa mang trong mình khao khát được tìm hiểu thế giới vừa muốn được nhiều người biết đến sẽ đạt kết quả tốt hơn nhiều so với khi cô ấy chỉ chịu tác động bởi một trong hai loại động lực trên. Chắc chắn rằng, hai luôn tốt hơn một. Nhưng, như Amy Wrzesniewski, giáo sư về hành vi học tại Trường Quản lý Yale và Barry Schwartz, giáo sư tâm lý học tại Swarthmore College cùng các đồng nghiệp đã lập luận trong một bài viết vừa mới được công bố trong bản Báo cáo chính thức sau cuộc hội đàm của Học viện Khoa học Quốc gia đã viết rằng:
Động lực ngoại sinh không phải khi nào cũng có ích, thậm chí đôi khi còn trở thành con dao hai lưỡi, ảnh hưởng trực tiếp tới thành công.

Eye 1

Tà ác học 101: Những kẻ thái nhân cách ở Nuremburg

© Inconnu
Tòa án Quân sự Quốc tế tại Nuremberg
Nếu, như nhiều người ngày nay vẫn nói, những kẻ thái nhân cách đang điều khiển chính phủ của chúng ta, tại sao chúng ta không biết về điều đó? Tại sao nó không phải là kiến thức phổ biến, được thảo luận trong gia đình và lớp học trên khắp đất nước? Tại sao các trường học không có khóa học dành cho chủ đề ấy? Nói một cách ngắn gọn, tại sao một ý tưởng đơn giản, nhưng rất mang tính cách mạng lại có vẻ bí mật như vậy? Câu trả lời thực ra nằm trong câu hỏi: nó mang tính cách mạng, nhưng không phải theo cách bạn nghĩ! Bạn thấy đấy, hầu hết các cuộc cách mạng đều bị gây ra, ảnh hưởng hay điều khiển bởi những kẻ thái nhân cách, và khá thường xuyên, điều này được thực hiện bởi cái gọi là "sự lạm dụng tâm thần học."

Những hành động và phản ứng của người bình thường, những ý tưởng và tiêu chuẩn đạo đức của họ thường được xem là không bình thường trong mắt của những cá nhân không bình thường. Và nếu một kẻ thái nhân cách coi hắn ta là bình thường, điều này dĩ nhiên là dễ dàng hơn nếu hắn ở vị trí nắm quyền, khi đó hắn sẽ coi một người bình thường khác biệt với tiêu chuẩn "bình thường" của hắn là không bình thường.

Điều đó giải thích tại sao, khi những kẻ thái nhân cách trèo lên nắm quyền, như chúng vẫn có xu hướng làm vậy một cách tự nhiên, hệ thống xã hội của chúng - bao gồm cả giáo dục và y học / tâm thần học - luôn có xu hướng coi bất cứ người bất đồng chính kiến - hay có xu hướng bất đồng chính kiến - nào là "tâm thần không bình thường". Như Lobaczewski viết, "Trong mắt kẻ thái nhân cách, người bình thường chỉ là một kẻ ngây thơ đi tin vào những lí thuyết không hiểu nổi; nếu gọi là "điên rồ" cũng không xa mấy."

Do đó, những chính quyền như vậy thường kiểm soát môn tâm lý học và tâm thần học thông qua ngân sách và sự có mặt của các "tay trong" thấm nhuần ý thức hệ tư tưởng trong hệ thống nghiên cứu giáo dục. Đồng thời, những phản ứng tự nhiên vô thức của người bình thường đối với môi trường bệnh hoạn xung quanh họ bắt đầu bị định nghĩa là bệnh tật và các "liệu pháp tâm thần", bao gồm cả nhiều loại thuốc, được quảng bá để buộc những người bình thường sống trong thế giới bệnh hoạn và nghĩ nó là bình thường.

Sự thật về chứng thái nhân cách phải bị gièm pha và che đậy để ngăn nó khỏi gây nguy hiểm cho chính hệ thống chính quyền, và điều này thường xuyên được thực hành bởi những quan chức bệnh hoạn về tâm lý. Bất cứ ai hiểu biết quá nhiều về chứng thái nhân cách đều có thể bị buộc tội với bất cứ thứ tội nào họ có thể bịa ra, bao gồm cả tâm lý không bình thường. Những người ấy trở thành "điên rồ", "hoang tưởng", "tâm thần không ổn định" và "nguy hiểm".

Nhận xét: Xem thêm: Đại cương về chứng thái nhân cách

Những bài khác trong loạt bài này:


Family

Con gái những người mẹ không biết yêu thương: Bảy nỗi đau thường gặp

© Chamille White / Shutterstock
Nhiều năm kể từ khi tôi nghiên cứu và viết cuốn sách 'Mean Mothers' (Những người mẹ ích kỷ), tôi bắt đầu cùng những người phụ khác nói chuyện, chia sẻ với nhau. Mỗi người phụ nữ có một câu chuyện khác nhau; nhưng có lẽ điểm chung lớn nhất là việc phát hiện ra: chúng ta không phải là cô gái, hay người phụ nữ duy nhất có những bà mẹ không thể hoặc sẽ không yêu thương chúng ta. Việc luôn cho rằng chẳng có bà mẹ nào là không tốt, cũng như một số huyền thoại về tình mẫu tử đã phác họa nên hình ảnh tất cả bà mẹ đều thương yêu con cái, nhưng điều đó lại cổ xúy làm cô lập những người con gái vốn không được yêu thương. Phát hiện này làm nhẹ đi một phần những gánh nặng và đau thương, nhưng không phải là tất cả.

Những mẩu chuyện dưới đây là những gì xảy đến với một đứa con gái lớn lên mà không có tình thương và sự chở che của mẹ, được lấy từ trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải từ một cuộc khảo sát khoa học. Một lần nữa, tôi không viết với tư cách của một nhà tâm lý hay một bác sĩ, mà với tư cách của một người đồng hành đồng cảm.

Thuyết gắn bó (attachment theory) do Bowlby đề xuất và sau đó được mở rộng bởi Mary Ainsworth, Mary Main và nhiều nhà tâm lý khác đã giải thích đầy đủ lý do tại sao những nỗi đau đó thường xuyên xảy ra.

Trong giai đoạn ẵm bồng và thời thơ ấu, đứa con gái có thể là phản chiếu hình ảnh của người mẹ. Nếu người mẹ biết yêu thương và gần gũi con cái, đứa bé sẽ được che chở an toàn, nó nhận thức được rằng nó được yêu thương và biết yêu thương. Cảm thức về sự yêu thương - cảm giác xứng đáng nhận tình cảm và sự chú ý, được lắng nghe và quan sát - trở thành nền tảng mà trên đó cô bé xây dựng những ý thức sớm nhất về bản thân và cung cấp năng lượng cho sự phát triển của mình.